Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

ĐẠI HỘI 12: TỪ VĂN KIỆN ĐẾN VĂN KIỆN – TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

Xin giới thiệu bài viết của TS NGuyễn Vi Khải từng là thành viên Ban Cố vấn của Thủ tướng Võ văn Kiệt, góp cái nhìn vào tiến trình Đại Hội XII
 Khắc Mai      


Đăt vấn đề
-         Thê giới bước sang Thế kỷ 21 với đặc điểm là chuyển động “khó lường” “đa chiều” ‘phức tạp” ( không đơn tuyến 2 phe 2 chủ nghĩa như Thế kỷ 20.)Sự đa chiều được nhìn nhận toàn diện hơn của 6 hình thức vận động ( 5 hình thức vận động kinh điển + hình thức vận động mới đang được khảo cứu – hình thức vận động của đời sống Tâm linh)
-         Đại hội 12 của ĐCSVN diễn ra trong bối cảnh ấy nhận định như thế nào về tình hình này. Đặc biêt, đánh giá tình hình trong nước có “quá lời” về thành tựu, “kiệm lời” về “hạn chế thiếu sót” – bệnh vốn có của nhiều Đại hội các ngành các cấp - bệnh thành tích không phải của riêng ngành giáo dục...”
-         Phác thảo này không tiếp cận văn bản theo PP truyền thống – mà chon một số nội dung chính của Đại hội cùng bàn luận theo cách nhìn của triết lý phát triển. – Đại hội 12 trong chuỗi Đại hội của ĐCSVN đầu Thế kỷ 21.

I.                  Đặc điểm tình hình
1.     Sự biến động về chính trị
-         Sự giao thoa 2 thiên niên kỷ 2 thế kỷ ngẫu nhiên chứng kiến sự chuyên biến mạnh mẽ về mọi mặt trên hành tinh. Trước hết là những biến động về chính trị. Xuất hiện tình huông các quốc gia dân tộc mạnh mẽ ly khai khỏi các khối cộng đồng truyền thống (XHCN) sang các khối cộng đồng “phi truyền thống”
-         Thay vì chiến tranh lạnh giữa 2 hệ thống 2 phe là các khối hợp tác để phát triển (NaFTA, EU, BRICS – ASEAN + 5,  MERCOSUR, APEC  (Asia-Pacific Economic Cooperation): Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, OPEC (Organization of the Petroleum Exporting Countries): Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa...
-          Các nước thành viên của Liên minh châu Âu là 28 nước có chủ quyềnđã gia nhập Liên minh châu Âu (EU) từ khi Liên minh này bắt đầu trên thực tế từ năm 1951 dưới tên Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC). Từ 6 nước bên trong ban đầu, đã có 6 lần mở rộng liên tiếp, trong đó đợt mở rộng lớn nhất diễn ra ngày 1.5.2004, khi 10 nước được gia nhập. Hiện nay Liên minh châu Âu gồm có 21 nước cộng hòa, 6 vương quốc và 1 đại công quốc.

-         Sự “thăng hoa” về văn hóa chính trị “ngoài Phương Đông” trong quá trình lựa chọn nguyên thủ quốc gia là một hiện tượng nói lên tâm lý “vượt qua” “Tôn trọng khác biệt” – nhất là khác biệt chính kiến,khác biệt ý thức hệ, khác biệt hệ thống chính trị, khác biệt chủng tộc... để hợp tác, tồn tại phát triển : Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozylà một người gốc  Hungary, mẹ mang hai dòng máu Pháp và Do Thái, Tổng thông Mỹ Barack Obama là một người da màu gốc Phi, nữ Thủ tướng CHLB Đức  A.Merkel là đoàn viên Đoàn Thanh niên Tự do Đức. là uỷ viên quận đoàn và bí thư chuyên trách dân vận và tuyên truyền tại Viện Hàn lâm Khoa học (viện nghiên cứu khoa học quan trọng nhất của Cộng hoà Dân chủ Đức.)... Sự “tôn trọng” hoặc “vựơt qua” khác biệt đã tạo ra các hợp tác song phương, đa phương điển hình là hình thành các khối ASEAN, khối BRICS, gần đây là quan hệ song phương giữa các quốc gia có 2 thể chế chính trị khác nhau hoàn toàn : Bình thường hóa quan hệ VN - Mỹ (20 năm), Cu-ba – Mỹ đã đặt quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ...

-         Trung Quốc  là một quốc gia dung hợp 2 thể chế chính trị khác biệt phát triển mạnh mẽ. Những năm cuối cùng của TK20 chứng kiến sự trở về của Hông-Kông “nguyên đai nguyên kiện” với chủ thuyết nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “Nhất quốc lưỡng chế”. Mô hình kinh tế của Hồng Kông đã được vận dụng ở nhiều nới của Trung hoa lục địa... Hoạt động gần đấy của TQ với chủ quyền của các nước láng giềng trở thành Hiện thực việc vẽ lại bản đồ Thế giới. Với tiềm lực kinh tế thứ 2 TG ( GDP hơn 10.000 tỷ USD)
-         Dân chủ hóa là một xu thế mạnh mẽ đã khơi dạy vai trò chủ nhân ông đất nước tại nhiều quóc gia nơi nào độc đoán chuyên quyền thi hành chính sách đàn áp bắt bớ bóp nghẹt tự do...thì sẽ bị trả giá ( châu Á có Myama, Châu Phi có hàng loạt các nướ xi ri Ly bi
-         Bình đẳng xã hội là thước đo phát triển + tiến bộ của nhân loại chứng kiến sự thực về vai trò của phụ nữ . Nhiều nguyên thủ quốc gia, chính trị gia là phụ nữ đã đảm nhận xuất sắc được thế giới ca ngợi ; thủ tướng CHLB Đức Angelo MecKen, Nữ thủ tướng Thái Lan, Tổng thống hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hylari Cliton...

-         Sự xuất hiện của các “siêu nhóm lợi ích” “siêu tập đoàn”...dưới danh nghĩa “nhà nước tự sưng IS” ( công khai) và “dân tộc chủ nghĩa bành trướng” (không công khai) manh động, khủng bố, đe dọa xâm chiếm lãnh thổ, vùng biển, vùng trời, hiện tượng cưc đoan trong quan hệ quốc tế trái ngược với xu thế hòa bình hợp tác gây căng thẳng cho khu vực và thế giới.

2.     Sự chuyển đổi mạnh mẽ về kinh tế trong xu thế phát triển Kinh tế tri thức &toàn cầu hóa
-         Hai công cụ lao động quan trọng nhất là bộ óc con người và mạng thông tin toàn cầu. Ai cũng có, cũng có thể sử dụng, nhưng cơ hội không như nhau, thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực từng người.
-          Tài sản vô hình tăng nhanh hơn nhiều so với  tài sản hữu hình. Tính chung cho các nước phát triển: trước năm 1985 công nghệ thông tin và công nghệ cao chưa phát triển, tài sản vô hình chiếm tỷ lệ rất thấp và tăng trưởng chậm, đến 1985  chỉ chiếm khoảng 20% GDP. Sau đó trong 10 năm tăng  12%,  đến năm 1995 đạt khoảng 32% (đó là thời kỳ máy tính cá nhân phát triển mạnh). 10 năm tiếp theo tỷ lệ này tăng 23%, năm 2005 đạt khoảng 55% (thời kỳ internet phủ khắp toàn cầu); từ năm 2005 đến 2011 dao động ở mức 55-57%.  Dự báo năm 2020 sẽ là 70%.
-         Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như: 1.Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn; 2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; 3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người. ở đỉnh cao của nó, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập; 4. Trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng; 5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa.[2]
-         Trên thế giới hiện nay, ở các nước thuộc Tổ chức OECD, các ngành kinh tế tri thức đã đóng góp trên 50% GDP (Mỹ 55,3%, Nhật Bản 53%, Canađa 51%…). Nhiều nền kinh tế công nghiệp mới và các nước đang phát triển cũng đang hướng mạnh vào kinh tế tri thức, tập trung nỗ lực để phát triển nhanh một số ngành kinh tế tri thức, như công nghệ thông tin, Internet, thương mại điện tử, công nghệ phần mềm…
-         Ngay từ Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng đã xác định: "KTTT có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất" và xác định "từng bước phát triển KTTT". Đến Đại hội lần thứ X (2006), Đảng tiếp tục nhấn mạnh "Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với từng bước phát triển KTTT".
3.     Vấn nạn biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ – sóng thần đe dọa an sinh xã hội nghiêm trọng, khó lường – xin phân tích ở dịp khác.
KẾT LUẬN   Sự chuyển động của mấy thập niên bắc cầu qua 2 thế kỷ, 2 Thiên niên kỷ có nhiều dấu ấn tác động mạnh mẽ mang tính toàn cầu –  vận động theo quy luật để tồn tại phát triển. Tính đa dạng không loại trừ nhau mà cần hợp tác “tôn trọng sự khác biệt, khai thác sự tương đồng” – “cầu đồng tồn dị”... là mặt tích cực của thời đại -  Xu thế này không chỉ là phương châm đối ngoại mà còn là chính sách đối nội của nhiều quốc gia để động viên được nhiều nguồn lực trong ngoài nước. Tôn trọng sự khác biệt bằng hành động thực tế cùng ĐỐI THOẠI    SỰ KHÔN NGOAN NHẤT CỦA GIỚI CẦM QUYÊN.Đây có lẽ là bài học thành công của các Đảng cầm quyền. Có thể cũng là điều cần tham khảo với VN.     ( Các Bài học của các Đại hôi Đảng không thấy nội dung này)

II.               Việt Nam qua 3 Đại hội đầu Thế kỷ 21 Từ Văn kiện đến Văn kiện
1.     Khái quát
-         Từ năm 2001 đến năm 2015 ĐCSVN đã tổ chức 3 đại hôi (IX, X, XI) Đại hôi này diễn ra sau 15 năm Đổi mới . Có thể nói sau 15 năm đổi mới tuy có đạt được một số thành tựu là thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng. Đất nước có nhiều cơ hội để cất cánh trở thành những “con rồng mới”. Nhưng kỳ vọng đó bị rơi tự do suốt nhiều năm . Điều này được chứng minh là sau 30 năm đổi mới , VN vẫn chỉ là nước có thu nhập trung bình thấp – dưới 2000 USD/ người. Với thời gian  30 năm :  Bốn con rồng châu Á ( Hồng KôngSingaporeHàn Quốc và Đài Loan ) đã duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hóa nhanh giữa thập niên 1960 và thập niên 1990. – Trường hợp Singapore : Trong vòng 25 năm (1966 – 1991), tổng sản phẩm quốc dân tăng gấp 8,9%, năm 1994 mức tăng trưởng đạt 10,2%, thu nhập bình quân tính theo đầu người là 18.025 USD.Điều đáng lưu ý là điểm xuất phát của các nước này cũng tương đồng” như VN :
-         Năm 1960, GDP (thực tế) của Hàn Quốc mới chỉ là 87 USD/người, Đài Loan 170 USD/người, Singapore 427 USD/người, Hongkong 1631 USD/người. Lúc đó tất cả đều không khác mấy những làng quê nghèo, nóng lạnh vì những vấn đề chính trị độc đoán và Singapore thì liên tục chao đảo vì những cuộc bạo loạn sắc tộc đẫm máu. Sau gần hai thập niên, GDP của Singapore năm 1985 là 10.811 USD/người, Hàn Quốc năm 1988 là 8.934 USD/người, Đài Loan năm 1987 là 9.992 USD/người, Hongkong năm 1990 là 9.896 USD/người. Nghĩa là đã vượt qua ngưỡng bị coi là nước nghèo (960 USD/người theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc, hoặc 875 USD/người theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới). Không rơi vào cái bẫy của sự phát triển và dừng lại ở đó, các nước này tiếp tục phát triển và trở thành các nước công nghiệp mới (NICs/NIEs). Đến năm 2005, GDP (tính theo PPP) của Hàn Quốc đã là 22.029 USD/người, Hongkong là 34.833 USD/người, Singapore là 29.663 USD/người. GDP của Đài Loan năm 2001 là 19.200 USD/người. 
2.     Một số văn đề đáng suy ngẫm, bình luận qua Văn kiện.
-         Đánh giá tình hình vẫn là những nhận định chung chung “diễn biến phức tạp, khó lường”... làm gì có tình hình đơn giản dễ dãi. Văn kiện Đại hội IX (trang 66) ĐH X (trang 184), ĐH XI (trang 9 +10) cũng đã nói y như vậy. Vấn đề là các xu hướng đó diễn ra do nguyên nhân khách quan chủ quan ra sao và dự báo các kịc bản khả năng quyết của cộng đồng thế nào?
-         Thàng tựu vẫn nhận định là đạt được thành quả quan trọng ...30 năm đổi mới ...đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử (trang 6) -  đáng lẽ ra phải nói là còn khiêm tốn, chưa xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra...). Bởi vì nhận định trang 4 nói rõ : “Đổi mới chưa đồng bộ...nhiều chỉ tiêu trong mục tiêu  phấn đấu đến năm 2020 cơ bản thành nước CN theo hướng hiện đại không đạt được.( Bệnh thành tích - nói dối ? Các Đại hội trước cũng nói y hệt như vậy). Điều này mâu thuẫn với nhận định về các nguy cơ vẫn tiếp tục tồn tại suốt nhiều năm ?
-         Về các mục tiêu từ Đại hội IX nêu lên cụm từ “dân giầu, nước mạnh xã hội công bằng , dân chủ, văn minh” điều mới là thêm từ “dân chủ” đến Đại hội XI điều mới là đưa từ “dân chủ” lên trên : “dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đồng thời thêm từ “sớm” trước cụm từ “đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” – Kỹ sảo nhảy múa của ngôn từ ?
-         Về 4 nguy cơ : “Bôn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới...”. ( giưa trang 8 của VK 12). Có lẽ đây là điều nói thật hiếm hoi. Các nguy cơ này đã được phát hiện từ Hội nghị TW giữa  nhiệm kỳ từ ngày 20 đến 25-1-1994 : Hội nghị xác định 4 nguy cơ trước mắt là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa ; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch ...Như vậy tính đến nay là hơn 20 năm, các nguy  cơ này “sống giai, sống lâu” hơn các Hiến pháp của chúng ta (vòng đời trung bình của HP chỉ có 10 – 12 năm ). Vấn đề là nguyên nhân gì mà 4 nguy cơ vẫn tồn tại qua 4 kỳ Đại hội – chả lẽ dân ta “sống chung với lũ” và  nay lại sống chung với nguy cơ ?  Chắc 4 nguy cơ còn tồn tại lâu như “tham nhũng vẫn ổn định” - Dân Việt Nam thật dũng cảm nhất Thế giới.Rõ ràng là  4 Đại hôi bất lực trước 4 nguy cơ... chứng tỏ sức chiến đấu của 4 triệu dảng viên, của 200 UVTW & cả HTCT có vấn đề. Tụt hậu, tụt hậu ngày càng xa...đến bao giờ ?
-         Nội dung về các thành phần kinh tế trong phát triển : “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo , kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” (tr. 15). Điều này đã nói  10 năm trước đây ở Đại hội X( Văn kiện  ĐH X tr. 83)
-         Về hạn chế yếu kém 3 trang 53, 54, 55 (VK12) Liệt kê 9 điều . Với 9 yếu kém này mà đến nay văn còn nói “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. .. Không co logic nào chấp nhận được. Chưa kể những Yếu kém nói còn nhẹ nhàng “êm ái”. Đồng thời 3 nguyên nhân ở trang 56  lại rất chung chung có thể nói ở thời điểm trước đây 10, 15 năm cũng không sai :Dòng đầu tiên cho thấy : “KInh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc”( có lẽ cách diễn đạt kém không có ý vòng vo ? ). Thực chất là tụt hậu Không ổn định - .Trong 3 yếu kém đầu tiên (tr.53) không dưới 10 chữ “chưa” rất “khiêm tốn” nhẹ nhàng... Không bắt đúng mức độ trầm trọng của bệnh thì không thể có phác đồ điều trị đúng, không cứu chữa được.
III.           Kết luận & Kiến nghị : Văn kiện ĐH 12 này không đạt yêu cầu của tình hình mới & yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh Thế giới chuyển đổi nhanh, có quy luật mang tính phổ biến của nhân loại – chúng ta nhấn mạnh cái đặc thù ở mức cực đoan – tự nhận là “sáng tạo, chưa có tiền lệ’” đi vào con đường thấy “ngày càng sáng tỏ hơn” (VK ĐH X tr. 17).
Kiến nghị : Viết lại với tư duy : Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Không dấu dốt, dũng cảm nhận sai lầm như Đại hội VI thì mới có thể thoát khỏi 4 nguy cơ.
Lưu ý : Nhưng x nguy cơ mới là gì ? Đây là điều cần được dự báo ở tầm vĩ mô. Thực tế cho thấy có 3 nguy cơ mới mà Việt Nam đang phải “đon đầu”
-         Thứ nhất : Trên bình diện đối nội -  Nguy cơ về một nền kinh tế phụ thuộc khá rõ ( sẽ có dịp phân tích sâu hơn).
-         Thứ hai : Trên bình diện đối ngoại - Nguy cơ về sự đe dọa anh ninh biển đảo, biên giới + vùng trời vùng biển ... đang là sự thực – buộc phải có chính sách đối ngoại sáng suốt...
-         Thứ ba : Trên bình diện văn hóa xã hội -  Nguy cơ về sự lai căng - đứt đoạn văn hóa... Không ít giá trị văn hóa bị “xô lệch” + sự băng hoại về đạo đức + niềm tin bị sói mòn...đáng báo động. Mất niềm tin, mất văn hóa là mất hết, khôi phục lại một nền kinh tế là không dễ - vài thập kỷ. Nhưng với văn hóa và niềm tin thì phải mất vài thế hệ & khó lường.
Nên nhớ Hiện nay Lòng tin của Dân với Đảng đang giảm sút. Dân chủ của Dân bị vi phạm nghiêm trọng.Văn kiện Đại hội cần công khai, đúng tinh thần Dựa vào Dân, lắng nghe Dân nói, chịu sự giám sát của Dân...Không thể coi thường Dân như thực tế vừa qua. Không thiếu dẫn chứng về chính sách, luật pháp, ngôn từ, hành động ... coi thường Dân trong mấy năm qua. Cũng Nên nhớ “mất Dân là mất tất cả, Dân mất quyền thì Nước cũng mất. ( VK ĐH luôn ghi dấu MẬT – Dân hết chỗ nói rồi). Hơn 30 năm nói “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” nhưng chưa được gì đáng kể... sẽ có dịp chứng minh. Trước hết hãy đổi mới ngay cách tổ chức Đại hội – Từ khâu biên soạn văn kiện đến giới thiệu nhân sự  cần công khai để :
 “Dân biết rõ ràng, Dân bàn thực sự, Dân tự kiểm tra, DÂN LÀ TẤT CẢ”
Hà Nội 25 -7 – 2015.
 (TL phục vụ sinh hoạt nội bộ DĐ – NVK)

Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Dư luận đang quan tâm báo cáo điều tra xã hội học về nhũng thói xấu của xã hội Việt hiện nay do Trần Ngọc Thêm chủ trì.Tôi góp một tiêng noi của một người già có chút ít từng trãi vào vấn đề đang được xã hội quan tâm.
Trước hết xin trích một câu nói của Mơ xơ C.Mác về vấn đề này.”Tệ dối
trá,tệ lớn nhất,gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt,tệ xấu căn bản này,là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó,trong đó cả mầm mống của mỹ đức cũng không có, tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất-thậm
chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế-tệ tiêu cực.Điều đó dẫn đến cái gì?Chính phủ (ở VN thì phải nói trước hết là Đảng)chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình,duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia , biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư,”(Mác Ăng Ghen Toàn tập.TI tr105 NXB ST).
Nếu ban lãnh đạo của đảng CS hiện nay vẫn còn tuyên bố “lấy chủ nghĩa Mác làm kim chỉ nam”thì trước hết hãy thôi cái thái độ , một mặt vẫn coi Mác là chỉ nam, mặt khác lại phản bội những tư duy lành mạnh tử tế hợp lý của Mác.
Ý nghĩa của lời nói của Mác như trên là tệ dối trá là nguồn gốc của mọi tệ hại khác.Chính phủ, Đảng duy trì sự dối trá là chỉ muốn nghe tiếng nói của chính mình bất chấp những tiếng nói lành mạnh khác của xã hội.Và kết quả của việc ấy là đẩy xã hội tới sự băng hoại.(Không có sự băng hoại xã hội nào ghê t ởm bằng làm cho nhân dân trở thành mê tín chính trị và quay lưng lại với công việc của quốc gia.Dự báo này thật là thiên tài,lại là nỗi đau cho xã hội Việt hiện tại)
Cuối đời Mác và Ăng Ghen đã đính chính lại học thuyết của mình,và khoa học cũng như thực tiễn đã chứng minh là hai ông thành thật và đúng,khi họ nhiều lần khẳng định rằng không có cái gọi là lý tưởng cọng sản chủ nghĩa,đó là ảo tưởng nhất thời và ấu trĩ.Cố nhiên cũng không có cái gọi là con đường xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.Thậm chí cuối đời Mác còn đính chính lại sự ngộ nhận về vai trò của giai cấp công nhân,vô sản.
Hãy nghe F.Ăng Ghen nói(Trich Lời nói đầu Cuộc Đấu Tranh Giai Cấp Ở Pháp)”Lịch sử chứng tỏ  còn làm được nhiều hơn thế:không những đã xóa bỏ mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản.Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt, chẳng có mục tiêu lớn Chủ nghĩa cọng sản gì cả.Đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Mác dề xuất lúc trẻ.Nhưng vứt bỏ nó vào cuối đời.”
Còn chính C.Mác cũng đã có ít nhất hai điều sau đây cần chú ý để làm cho đúng ,đặng khỏi rơi vào dối trá!Về quyền sở hữu,thực chất là tư hữu,Mác đã đính chính lại cái khẩu hiệu “phản động”,viết lên ngọn cờ hai chữ xóa bỏ tư hữu.Cuối đời ông khẳng định” Những nhà sản xuất (doanh nhân), chỉ trở thành tự do, một khi họ sở hữu được nhũng phương tiện sản xuất;(đất đai,nhà xưởng,tàu thuyền,ngân hàng, tín dụng…)Thế mà chúng ta đang lừa mị dân là Mác chống tư hữu để đưa vào HP khẳng định thể chế công hữu là chủ đạo,tìm mọi cách để hạn chế quyền sở hữu của Dân nhất là về đất đai!
Điều thứ hai là Mác đính chính lại sai lầm về vai trò giai cấp công nhân ,vô sản.Ông từng dự báo (thật chính xác y như ông đang nhìn thấy cái hiện thực của các nước theo đường lối xã hội chủ nghĩa hiện tại vậy).”Chính quyền của giai cấp công nhân sẽ được tạo dựng bằng một chế độ ủy quyền.Người ta sẽ phó thác cho một nhóm người tự mình ứng cử và bầu cử nhằm đại diện và cai trị họ(gcCN). Điều ấy sẽ khiến cho họ rơi tỏm ngay vào mọi sự lừa dối,và vào mọi sự lệ thuộc của chế độ ủy trị và tư sản.Sau một hồi ngắn ngũi tự do và say sưa cách mạng,làm công dân của một nhà nước mới,họ sẽ bừng tĩnh thấy mình là nô lệ,là con rối hoặc là con mồi cho những tham vọng mới.(ils se reveilleront esclave, jouets,ou victimes de nouveau ambitieux.) Cả hai câu trên đều trich dẫn tư Mac Cuộc đời và tác phẩm,của J.Eleinstein, NXB Fayard>)
Chúng ta phải đính chính lại, sửa lại cho đúng, cho chính danh nhũng vấn đề rất lớn, rất cơ bản của Đất Nước, của Xã hội Việt hiện tại.Làm cho chế độ chính trị thật sự là chính danh, chính nghĩa,chính đáng,chân chính,không thể không bàn tới cái gọi là chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa hay chủ nghĩa cọng sản.Không thể không bàn đẻ đính chính nhũng quan niệm sai lầm và tất yếu đã dẫn tới dối lừa, như người dân Nam bộ đã ngay lập tức hài hước chỉ ra:<Nói zậy mà không phải zậy>Phải đính chính quan niệm công hữu sai lầm,đính chính vai trò giai cấp công nhân, không được đánh lừa họ, đánh lừa dân tộc, khi đề cao họ  là giai cấp lãnh đạo, nhưng thực tế, như Mác nói, họ cũng chỉ là nô lệ, con rối, con mồi cho những tham vọng mới!Phải đính chính tên đảng cọng sản vì nó đã bị dịch sai.Phải đính chính tên Nhà Nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa.Một cái tên hoàn toàn không chính danh.Vì nó không phản ảnh được đúng cái tư duy của ông Mác, được coi là tổ sư của chế độ.Không phản ảnh đúng cái hiện thực của xã hôi Việt.Sự lừa dối rất trắng trợn, khi mà chính vị Tổng Bí Thư của Đảng là Ông Nguyễn Phú Trọng cũng phải nói lên rằng trăm năm nữa cũng chưa có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện.Nghĩa là chỉ có một thứ chủ nghĩa xã hội khuyết tật, méo mó, bất thiện mà thôi.Dùng mọi thủ đoạn để “lãnh đạo”,nghĩa là dẫn dắt Dân đi vào một tương lai đầy khuyết tật,méo mó bất thiện.Người có lương tri, có tâm trí lành mạnh không thể đánh lừa Dân lùa xã hội như vậy!
Phải giở bỏ những đánh tráo khái niệm.Nhũng trí thức văn nô đã từng đánh tráo một khái niệm để bao che cho cái sự thật,xấu xa tiêu cực.Vào nhũng năm 60 cho đến 75 ở miền Bắc,rồi từ 75 đến 86 ở cả nước đã hăng hái “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”. Đó là khẩu hiệu, là đường lối chính thống của Đảng lãnh đạo, của tư tưởng Hồ Chí Minh.Đường lối ấy sai lầm mà Đại Hội VI đã phải công nhận.Nhưng để tránh sự lên án chủ nghĩa xã hội, giới trí thức đã đánh tráo khái niệm, họ đã tìm ra một tên thủ phạm “ất ơ”,một tên ấm ớ gọi bằng “ bao cấp”.Thật ra bao cấp chỉ là một phương thức, nó có mặt trong xã hội phong kiến, quân chủ,trong các nước theo chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa,ở cả nhũng nước tiên tiến lẫn các nhà nước nghèo, chậm tiến.Ngày nay ở Canada, ở CHLB Đưc, các nước Bắc Âu…họ thực hiện bao cấp rất hay và tốt.Ở châu Á , Singapore là nơi phương thức bao cấp rất đáng bái phục.Người ta đánh tráo khái niệm để chạy tội cho một đường lối “hư hỏng, cũ kỹ”.Có một đánh tráo khái niệm khác cũng rất gian xảo.Ai cũng biết nhà nước pháp quyền hiện đại đều phải tựa nương theo nguyên lý “Tam quyền phân lập”.Người ta không dám trắng trợn xóa bỏ nguyên lý này, bèn đánh tráo bằng quan niệm tức cười là “sự phân công giữa ba cơ quan quyền lực”!Cái sự phân công là đương nhiên giữa các cơ quan quyền lực,kể cả trong cái cơ cấu không phân lập!

Đến như cái chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”,thì báo chí hé lộ một định nghĩa (quá tức cười,bởi vì nó không định được gì cả)Rằng kinh tế thị trường định hướng xhcn là nền kinh tế có đầy đủ yếu tố thị trường theo định hướng xhcn.(xem   bài tường thuật cuộc hội thảo : Nhận thức mới về kinh tế thị trường xhcn trên báo Tuổi Trẻ TPHCM).

Một thiết chế xã hội,trong đó nhũng thực thể được coi là chính thống, nhưng không chính danh,lô gích nội tại không chính xác,làm sao khắc phục nỗi sự rối loạn chuẩn mực.Một khi đã rối loạn chuẩn mực thì tất yếu dối trá sẽ lên ngôi,xã hội không còn những định hướng tử tế, hẵn hoi,đàng hoàng.
Điều may mắn là đầu năm Ât Mùi này, như có sự dẫn dắt của hồn thiêng sông núi mà đã xuất hiên ba sự kiện có ý nghĩa.Thứ nhất là cái phòng khách vương giả của một người là cựu TBT.Thứ hai là nụ hôn và câu đối của một người được phong là Đương Đại Quốc Sư.Thứ ba là bản báo cáo điều tra xã hội học về thói tệ của người Việt hiên nay do GS Trần Ngọc Thêm chủ trì.Nói vè xã hội học của cái phòng khách và chủ nhân của nó, cũng như nụ hôn và người thực hiện,ta phải nghĩ rằng đó là sản phẩm chính thức của hệ thống xã hội chính thống hiện nay.Một người từng đứng đầu của Đảng cầm quyền, đã khởi xướng và chỉ thị việc học Hồ Chí Minh.Nhưng khi họ rao giảng nào là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,nào là vì dân vì nước,nào đạo đức cách mang…thì cái nhân cách thực của họ lại là những điều ngược lại.Một người tự nhận là quốc sư đương đại thì hôn “sàm sỡ”,quá nhiều những thất thố về văn chương thơ phú,mà nhảm nhất là đã ca ngợi một “công trình” phỉ báng Nguyễn Du,phỉ báng Truyện Kiều,phỉ báng chuẩn mực văn chương của nước nhà.Hai ví dụ “sốc “ về thế nào là sự rối loạn chuẩn mực xã hội.Cái xấu, cái giả, cái thứ phẩm được lên ngôi.Người xưa từng nói “thượng bất chính hạ tắc loạn”.Câu ấy diển tả rất trúng cái thực trạng xã hội ta hiện nay,thượng tầng không chính ,tất yếu hạ tầng rối loạn.
Hai sự kiện “điển hình trong một hoàn cảnh điển hình”xuất hiện có vẽ ngẫu nhiên.Thật ra là đúng quy luật,nó như là sự xác nhận cho cái báo cáo xã hội học cũng ra đời đúng lúc.
Cả ba sự kiện ấy như ba tiếng chuông cảnh tĩnh, báo động cho một thực trạng văn hóa xã hội,mà còn là sự thức tỉnh của dư luận xã hội.
Như Trần Nhân Tông viết trong Cư Trần Lạc Đạo :”Cùng nơi ngôn cú”, nghĩa là nơi lĩnh vực ngôn cú-lĩnh vực tư duy,khoa học, nghiên cứu…phải đi đến cho tận cùng.Điều tra xã hội học để thấy cho đúng cho rõ cái thực trạng.Nhưng chỉ mô tả thực trạng không đủ,phải dò đến tận cùng của nguồn gốc, của nguyên nhân.Có như thế mới có cách sữa chữa đến nơi đến chốn.
Phương Tây họ có mấy chữ W để nói cái qui trình nghiên cứu.
Chữ What là nói nội dung của thực trạng tệ giả dối.
Chữ Who là nói ai là thực thể hành xử tiêu cực, và quan trọng là Ai đã góp phần gây nên tệ nạn.Không thể không nghĩ tời tầng lớp trí thức vốn rất bạc nhược của nước ta,chính họ là kẻ đầu têu cũng phụ họa cho cái tệ xấu xa đó,lại còn không biết và cũng không đủ năng lực để sớm cảnh tĩnh, ngăn ngừa tệ nạn.Có một Ai nữa là hệ thống chính trị, nhũng nhà cầm quyền lớn nhỏ ở mọi cung bậc, phạm vi xã hội.Trong cái hệ thống chính trị này 4 triệu đảng viên không thể là kẻ vô can.Hai “AI” ấy là nhũng kẻ chịu trách nhiệm chính đã làm nên một xã hội nhiều tiêu cực,và băng hoại.
Còn chữ Why là nói sự tìm tòi cho ra nhũng nguyên nhân khác nhau. Có nguyên nhân chính trị, thể chế,tư pháp(dùng chữ luật pháp thì chỉ thấy văn bản câu chữ,không thấy con người và hệ thống ),có nguyên nhân văn hóa , đạo đức,nguyên nhân kinh tế,giáo dục, cả tôn giáo…Ông Các Mác, người ta bảo ổng có nhiều sai lầm, nhưng Ông cũng có nhiều tư duy hợp lý ví như ông nói”Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”.Nhiều cán bộ tuyên huấn thường quên chữ bản chất nên hiểu không trúng.Khi những quan hệ xã hội lệch pha, rối loạn và cũng không sạch, không xác tín, nghĩa là nhũng quan hệ cũng dối lừa, thì cái chất, cái phẩm của con người sẽ thế nào có thể đoán định ra được.
Bản báo cáo không chỉ tìm nạn nhân,phải tìm thấy tội nhân và cả nhũng tác nhân sẽ có ích nhiều.
 Tôi xin trich một câu nỗi tiếng về chính danh trong sách Là Thị Xuân Thu:”Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ làm cho mất danh là kẻ nói, chủ trương quá mức.Nói, chủ trương quá mức, tức là biến cái có thể, cái cho phép thành cái không có thể, không cho phép:nên cái phải, biến thành cái không phải, biến cái đúng thành cái không đúng,cái sai thành cái không sai…Phàm mọi sự loạn là do hình danh không đúng vậy”.Điển hình cho lời nói và chủ trương quá mức(phải gọi là ngoa ngôn, lừa mị),là Lê nin trong tuyên bố “dân chủ xhcn,là một triệu lần hơn”,ở nước ta có người đã hạ xuống vạn lần vẫn cứ là nói lấy được! Sự hỗn loạn đúng sai trong xã hội hiện nay của chúng ta là quá rõ ràng.Không chỉ là đau lòng mà phải có quyết tâm sửa đổi.
Trước khi dừng bút xin chép tặng giới trí thức nước nhà một câu triết lý của  Alcuin, mà Nietzsche rất thán phục và nhắc lại:Thiên chức của triết học (Trí thức)là đính chính những điều thiên lệch,củng cố những điều chính nghĩa,và làm thăng hoa những điều thánh thiện.”(La vẻritable vocation royale pour une philosophie: Prava corrigere,et recta corroborare et saneta sublimare).Liệu trí thức nước nhà đã thật sự “thức” dậy chưa đặng kê lại cho bằng nhũng thiên lệch,gia cố cho đủ mạnh những gì đứng đắn,và làm thăng hoa những gì là tốt đẹp./.

Nguyễn Khắc Mai